Tật khúc xạ tuổi học đường

Bây giờ, tật khúc xạ khá phổ thông tại Việt Nam. Theo chương trình chăm chút mắt học đường năm 2016, kết quả cho thấy có khoảng 34,8% học sinh trung học bị mắc các loại tật khúc xạ, trong đó cận thị chiếm tỉ lệ khoảng 80%. Nếu không phát hiện kịp thời, tật khúc xạ có thể gây ảnh hưởng đến sinh hoạt, các hoạt động vui chơi hằng ngày, quá trình học tập cũng như sức khỏe của trẻ. Một số khúc xạ có khả năng gây ra các biến chứng như thoái hóa võng mạc, tăng nhãn áp, bong võng mạc… có thể dẫn đến mù lòa.

1. Các loại tật khúc xạ

tật khúc xạ tuổi học đường

Có 3 loại tật khúc xạ: loạn thị, cận thị, viễn thị

Cận thị: là tật khúc xạ có ánh sáng chiếu vào mắt tập kết phía trước võng mạc.
Viễn thị: Là tật khúc xạ có ánh sáng chiếu vào mắt hội tụ phía sau võng mạc.
Loạn thị: Là tật khúc xạ có ánh sáng chiếu vào mắt không còn tụ hợp thành một điểm nữa, mà thành 2 đoạn thẳng khác nhau gọi là tiêu tuyến. 2 tiêu tuyến này chẳng thể nằm cùng lúc trên võng mạc nên hình ảnh của vật sẽ bị nhòe đi.
2. Các yếu tố nguy cơ dễ gây tật khúc xạ

Đối với tật cận thị, nhiều nghiên cứu cho thấy 33% đến 60% trẻ bị cận thị có cả cha và mẹ đều bị cận thị. Do đó, tiền căn có người cận thị trong gia đình là một yếu nguy cơ quan trọng. Ngoài ra, những người có khối lượng công việc nhìn gần nhiều, nhưng không có chế độ ngơi nghỉ hợp lý cho đôi mắt cũng gia tăng nguy cơ bị cận thị. Chẳng hạn như học sinh, sinh viên học bài hoặc làm việc trong điều kiện không đủ ánh sáng, học lâu không cho mắt ngơi nghỉ, chơi điện tử quá nhiều, xem tivi ở khoảng cách gần trong thời gian dài,…

Triệu chứng thường gặp nhất của tật khúc xạ là nhìn mờ hoặc hình ảnh của vật bị nhòe đi. Đối với tật cận thị, nhìn vật ở xa thường bị mờ, tuy nhiên, nhìn vật ở gần vẫn rõ. Đối với tật viễn thị và loạn thị, nhìn vật ở xa hay ở gần đều cho cảm giác mờ.

Bên cạnh đó, tật khúc xạ còn có các biểu lộ khác như mỏi mắt, nhìn thấy 2 hình, nhức đầu, nhức mắt, chóng mặt,…

Ở trẻ mỏ, trẻ có thể có miêu tả như dụi mắt, nheo mắt, cúi sát để nhìn,…

3. Các phương pháp điều trị tật khúc xạ

bây chừ, tật khúc xạ có thể được điều chỉnh bằng nhiều phương pháp khác nhau. Mỗi phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm riêng. nên, cần cân nhắc và xin ý kiến của bác sĩ nhãn khoa.

Kính gọng
Đây là phương pháp phổ biến và được áp dụng rộng rãi nhất do các lợi điểm như rẻ tiền và an toàn (nhất là khi làm bằng chất liệu nhựa hoặc polycarbonate có tính chống va đập tốt). ngoại giả, khi đeo kính gọng, bệnh nhân ít phải điều tiết hơn và không gây viêm nhiễm kết giác mạc so với kính tiếp xúc. Tuy nhiên, kính gọng có nhược điểm là gây khó chịu, do gọng kính tì đè lên mũi và tai, làm thu hẹp thị trường.

Xem thêm:

Kính xúc tiếp

tật khúc xạ tuổi học đường

Kính xúc tiếp quang học có 2 loại: cứng và mềm

Kính xúc tiếp quang học là một loại kính khi đeo sẽ áp sát vào giác mạc (tròng đen) để giúp điều chỉnh khúc xạ. Có 2 loại là kính xúc tiếp mềm và kính xúc tiếp cứng.

Kính tiếp xúc mềm là loại hay được bán trên thị trường. Ưu điểm của kính tiếp xúc mềm là có tính thẩm mỹ cao, làm giảm đáng kể các khó chịu do sức nặng của gọng kính và không làm giảm tầm nhìn (thị trường) như kính gọng. Tuy nhiên, do khi đeo, kính tiếp xúc áp sát vào giác mạc nên dễ gây ra viêm nhiễm cho mắt nếu sử dụng không đúng cách. Nhiều trường hợp viêm loét giác mạc rất nặng đã được ghi nhận do đeo kính tiếp xúc không đúng. thành ra, khi sử dụng kính tiếp xúc, nên khám và theo dõi mắt định kì.

Kính xúc tiếp cứng thấm khí là loại kính đeo về đêm khi ngủ để chỉnh hình giác mạc (tròng đen) và sau khoảng 2 tuần sẽ có tác dụng điều chỉnh cận thị ban ngày mà không cần đeo kính. Phương pháp này có ưu điểm là ban ngày không phải đeo kính, kết quả có thể đảo ngược được vì sau khi ngừng kính 1 thời kì thì giác mạc sẽ từ từ trở về dạng ban đầu. Tuy nhiên, nhược điểm là giá thành cao, có thể gây thương tổn giác mạc nếu dùng không đúng cách.

Phẫu thuật điều trị tật khúc xạ bây chừ khá phổ thông và ngày một được ứng dụng rộng rãi với nhiều phương pháp mổ tiền tiến, can thiệp tối thiểu trên mắt bệnh nhân như giải phẫu ngoại nhãn (LASIK, epi-LASIK, femto-LASIK, SMILE,…) và giải phẫu nội nhãn (đặt thủy tinh thể nhân tạo,…). Tùy theo mức độ tật khúc xạ, độ dày giác mạc, tuổi tác,… mà bác sĩ nhãn khoa sẽ tham vấn phương pháp mổ hạp cho bệnh nhân. Ưu điểm của phương pháp này là bệnh nhân được giải phóng kính gọng hoặc kính tiếp xúc. Tuy nhiên, nhược điểm là giá thành cao và còn tiềm ẩn một số nguy cơ biến chứng của giải phẫu, mặc dầu tỉ lệ này rất thấp.

4. Các biện pháp hạn chế tật khúc xạ

Để có một vài mắt khỏe đẹp, cần có chế độ sinh hoạt, làm việc, học tụ hợp lý để mắt không phải vận dụng các biện pháp sau đây:

tật khúc xạ tuổi học đường

Khoảng cách đọc sách cần phù hợp khoảng 35 – 40 cm

Khi làm việc đòi hỏi thị giác cao khi nhìn gần, như đọc sách, học bài, làm việc trên máy tính, may vá, tính tình sổ sách,… cần cho mắt nghỉ ngơi mỗi 45 phút. Khi nghỉ cần đứng lên đi lại và nhìn ra xa (nhìn ra cửa sổ) để mắt thư giãn, tránh điều tiết.
Khoảng cách đọc sách cần phù hợp, đối với người lớn là khoảng 35 – 40 cm.
Nơi học tập và làm việc cần có đủ ánh sáng. Ngoài ánh sáng trong phòng thì cần 1 đèn để bàn. Cách chiếu sáng tốt nhất là từ sau chiếu qua vai hơn là chiếu trực tiếp từ phía trước để tránh phản xạ vào mắt chúng ta.
Khi đọc sách hoặc làm máy tính, ta cần ngồi ngay ngắn, giữ cho lưng thẳng và thư giãn.
Đối với trẻ nhỏ, cần hạn chế thời kì xem ti vi và chơi điện tử. Khoảng cách từ mắt đến ti vi phải ăn nhập, khoảng 2,5 – 3m.
Gia tăng các hoạt động ngoài trời vì sẽ giúp mắt nhìn xa và thư giãn, tránh điều tiết.
Ngủ đủ giấc, tránh thức khuya.
Cho trẻ đi khám kiểm tra mắt mỗi 6 tháng một lần hoặc ngay khi có các diễn đạt nghi tật khúc xạ, để phát hiện và điều trị kịp thời.
ngoại giả, khi mắc tật khúc xạ, cần đeo kính thẳng băng vì kính giúp mang lại nhãn lực rõ nét và thoải mái, giúp mắt tránh tình trạng điều tiết trực tính và giảm các rối loại thị giác gây ra do điều tiết như nhức đầu, mỏi mắt,… Tái khám thầy thuốc nhãn khoa mỗi 6 tháng để rà độ kính, các rối loạn thị giác khi đeo kính và để phát hiện sớm các biến chứng của tật khúc xạ như bong võng mạc, thoái hóa võng mạc, tăng nhãn áp,…

ThS. BS Đoàn Kim Thanh – BS CKI Lê Quốc Tuấn

Bộ môn Mắt ĐHYK Phạm Ngọc Thạch

Theo Tạp chí Sức Khỏe – nhunghuouchinhhuou.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *